1. Vai trò của Lân đối với thực vật nói chung
Lân (P) có trong thành phần Protit tạo nên nhân tế bào, vì vậy nó là chất không thể thiếu cho sự sống của cây. Lân rất cần cho sự hình thành nên các bộ phận mới ra mầm non (tham gia tích cực trong quá trình kiến tạo nên hoạt chất hình thành mầm hoa, đẻ nhánh, phân cành, ra hoa, đậu quả và phát triển bộ rễ. Lân ảnh hưởng đến sự vận chuyển đường, bột tích lũy về hạt và các bộ phận của chất nguyên sinh làm cho cây chống được lạnh, chống được nóng. Lân còn có tác dụng đệm, làm cho cây chịu được chua, kiềm. Lân có trong thành phần hạt nhân tế bào, rất cần cho sự hình thành bộ phận mới của cây. Lân tham gia vào các thành phần enzin, các Protein, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin. Nhưng cũng cần chú ý bón lân cân đối và hợp lý vì bón quá nhiều lân có thể làm cho cây bị thiếu một số nguyên tố vi lượng nên người ta thường bón phân lân kết hợp với bón bổ sung các nguyên tố vi lượng thiết yếu. Trong các loại phân lân thì phân lân nung chảy (FMP) là một dạng phân lân chứa khá nhiều các nguyên tố dinh dưỡng trung và vi lượng (Ca, Mg, S, Fe, Mn,…).
2. Vai trò của Lân đối với cây trồng
Trên cây táo, hầu như số hoa trên cành có tương quan tuyến tính đến hàm lượng lân trong lá. Sự tương quan thuận giữa sự bón phân lân và hàm lượng cyto kinine vì cyto kinine thúc đẩy sự hiệu quả của chất lân trong việc hình thành hoa.
Đối với cây xoài: bón phân lân sớm ở thời kỳ trước khi trái phát triển có thể kích thích cho sự sinh trưởng trong mùa Xuân. Hàm lượng lân thấp sẽ không thúc đẩy sự ra hoa. Nhưng hàm lượng lân trong chồi cao rất thích hợp cho sự khởi phát hoa.
Nhu cầu lân của cây lạc khá lớn. Lân có tác dụng kích thích quá trình cộng sinh với vi khuẩn tạo ra nốt sần trên rễ, tăng cường khả năng hút đạm của cây, thúc đẩy ra hoa đậu trái, lạc có nhu cầu dinh dưỡng lân nhiều nhất ở thời kỳ từ khi ra hoa đến sau khi hình thành quả. Để tạo được 1 tấn hạt, cây lạc lấy đi từ trong đất: 49kg N, 52kg P2O5 và 27kg K2O.
Qua nghiên cứu của một số nhà khoa học về so sánh sản lượng thu hoạch của 8 loài cỏ hàng năm cùng giải pháp trồng trọt: có những loài yêu cầu lân cao, có loài yêu cầu lân ít. Một nhóm nhà nghiên cứu khác đã đo nồng độ lân trong các dung dịch đất và thấy rằng: 95% sản lượng tối đa đạt được nhờ có bổ sung lân.
Đầu tiên phải kể đến là rau diếp cần 0.4 ppmp, khoai lang cần 0.1 ppmp, ngô cần 0.06 ppmp. Thí nghiệm với các cây trồng trong chậu, đã so sánh 8 loài cỏ trồng và tìm thấy loài cây có nhu cầu lân thấp nhất là cỏ bạc, trong khi cỏ ba lá có nhu cầu lân cao nhất, các loài cỏ họ đậu cần nhu cầu lân nhiều hơn so với các loài hòa thảo. Thí nghiệm ngoài đồng ruộng, các loại cỏ họ đậu chỉ cần lượng lân bổ sung lớn hơn khoảng 2 lần so với lúa, chứ không phải 4 lần như thí nghiệm trong chậu.
3. Vai trò của Lân đối với hoa và cây cảnh